Bí quyết luyện phát âm tiếng Nhật (Phần 1)

Đến khi sang Nhật giao lưu với các bạn bè quốc tế trên nước Nhật mới thấy, tiếng Nhật của các bạn nước khác nghe rất tự nhiên, bắt chước khá giống giọng người Nhật. Còn phần lớn người Việt… chắc nhiều bạn cũng nhận ra rằng người Việt phát âm tiếng Nhật chưa tự nhiên lắm, nghe khá cứng nên về mặt phát âm thì sự thật là đang yếu kém hơn các bạn quốc tế. Vậy tại sao lại như vậy? Bài viết này sẽ chia sẻ một số bí quyết phát âm mình đã học được khi tiếp xúc với các bạn quốc tế tại Nhật Bản, cũng như kiến thức của một cô giáo đã có khoảng 20 năm kinh nghiệm dạy học chỉ mình.

Kiến thức về trọng âm trong tiếng Nhật mà mình chưa bao giờ được học

Nguyên âm

Nguyên âm trong tiếng Nhật chỉ có 5 cái, đó là あ, い, う, え, お. Khi học tiếng Nhật, nhiều bạn sẽ đọc luôn thành “a, i, ư, ê, ô” giống hệt tiếng Việt. Nhưng thực tế, âm “う” trong tiếng Nhật khi phát âm miệng không hề dẹp, mà sẽ tròn trông giống như âm “u”.

Phụ âm

Khi học tiếng Nhật, các bạn đều đọc hết âm hàng た là “ta”. Nhưng thực tế, hàng た này có 2 cách đọc. Tuy đều là âm đầu lưỡi giữa, chia thành âm “ta” và “tha”. Ví dụ câu たべました, chữ た đầu tiên đọc là “tha” (là âm tắc, vô thanh, CÓ bật hơi), chữ た ở cuối được đọc là “ta” (là âm tắc, vô thanh, KHÔNG bật hơi). Cặp như vậy ngoài hàng た ra còn có hàng か, hàng ぱ nữa. Các bạn nghe thật kỹ sẽ phát hiện điều này.

Vậy có quy tắc nào cho việc lúc nào phát âm thành âm bật hơi, lúc nào phát âm thành âm không bật hơi không? Câu trả lời hiện tại của mình là chưa có. Vì vậy khi học từ vựng, ngày từ lúc phát băng để nghe cách đọc từ mới phải lưu ý nghe thật kỹ xem người Nhật đọc như thế nào, rồi học thuộc.

Ngoài ra, cần đặc biệt lưu ý cả âm つ. Âm này trong tiếng Việt không có, nó là âm bán tắc, vô thanh, CÓ bật hơi. Nhưng nhiều bạn đọc thành “chự” – âm KHÔNG bật hơi, nên nghe thấy âm này là biết ngay người Việt mình, người Nhật cũng thường hay hỏi mình vì sao người Việt hay “chự”.

Trường âm

Trong tiếng Việt, không có hiện tượng “kéo dài nguyên âm của một từ sẽ khiến từ đó mang ý nghĩa khác” nên người Việt thường không ý thức được điều này. Hay nói chính xác hơn là vì là người Việt nên không để ý đến vấn đề nay. Thực tế, khi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, mình mới phát hiện ra rằng tiếng Việt cũng có nguyên âm đơn dài và nguyên âm đơn ngắn. Ví dụ: Cơm (ơ – nguyên âm đơn dài) và câm (â – nguyên âm đơn ngắn) chính là sự khác biệt của âm dài và âm ngắn. Vậy nên khi mình phát âm tiếng Nhật cũng vậy, cần để ý âm dài âm ngắn sao cho phát âm thật chuẩn, để không nói “(ăn) cơm đi” thành “câm đi”.

Thanh điệu

Thanh điệu là gì? Thanh điệu là độ trầm, độ bổng của giọng nói trong một âm tiết, dùng để khu biệt vỏ âm thanh của từ… Trong tiếng Việt có 6 thanh gồm thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng và thanh không.

Còn tiếng Nhật là アクセント. Đây là một vấn đề khó đối với người mới học tiếng Nhật. アクセント trong tiếng Nhật chủ yếu thể hiện theo hình thức lên giọng và xuống giọng. Ví dụ âm わたし (tôi) xuống giọng ở âm đầu, đọc thành wà-ta-shi; còn 教科書 (sách giáo khoa), xuống giọng ở âm cuối, đọc thành kyô-ka-shộ.

Tiếng Nhật lấy âm Tokyo làm chuẩn, mà アクセント của Tokyo được chia làm 6 loại, đánh dấu từ 0 đến 5.

  • Loại 0: Âm đầu thấp, các âm tiếp theo đều là âm cao, ngay cả trợ từ đứng ngay phía sau cũng đọc âm cao.
  • Loại 1: Âm đầu cao, các âm còn lại đều thấp.
  • Loại 2: Âm thứ 2 cao, âm 1 và 3 đều thấp, trợ từ đứng phía sau cũng đọc trầm giọng.
  • Loại 3: Âm thứ 2 và 3 cao, âm 1 và 4 thấp, trợ từ đứng phía sau cũng đọc trầm giọng.
  • Loại 4: Âm thứ 2, 3, 4 đều cao, âm 1 và 5 thấp, trợ từ đứng phía sau cũng đọc trầm giọng.
  • Loại 5: Âm thứ 2, 3, 4, 5 đều cao, âm 1 và 6 thấp, trợ từ đứng phía sau cũng đọc trầm giọng.

Như vậy, từ phân loại trên cho thấy, đại đa số trợ từ trong tiếng Nhật đầu được đọc trầm giọng, xuống giọng, nhưng đa số người Việt đều đọc thành lên giọng, đọc nhấn mạnh trợ từ.

Ngoài ra, từ bảng trên ta có thể suy luận, âm cao trong tiếng Nhật trừ trường hợp đi liền nhau ra, thường không xuất hiện 2 lần riêng biệt. Nghĩa là trong một từ (bao gồm cả trợ từ phía sau) chỉ có thể là “cao thấp thấp, “thấp cao cao”, “thấp cao thấp”… chứ không thể là “cao thấp cao”, “cao thấp cao thấp” hoặc “thấp cao thấp cao”. Kể cả từ vựng đó có dài đến đâu đi chăng nữa cũng phải phù hợp với quy luật này.*

*Áp dụng cho trường hợp giọng chuẩn Tokyo vì tiếng địa phương sẽ khác.

Sách Minna no nihongo có một điểm yếu là không đánh dấu アクセント cho người học, khiến người Việt hay đọc thành âm bằng như “wa-ta-shi (tôi)” và “ha-na (hoa)”.

Mình mới tìm được từ điển Weblio có đánh dấu cách đọc アクセントcủa từ theo các đánh dấu ở trên.

Nếu các bạn không có từ điển như vậy cũng không cần lo lắng, ngay từ khi nghe băng học phát âm của từ mới, hãy nghe kỹ từ mới đó được phát âm như thế nào để bắt chước cho giống. Tránh phát âm từとっても (tột ~) thành “tốt ~”.

(Còn tiếp…)

2 thoughts on “Bí quyết luyện phát âm tiếng Nhật (Phần 1)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.